Thẻ: thảo luận và thuyết phục

CHƯƠNG TRÌNH THỜ PHƯỢNG  BAN THANH NIÊN 22.9.2019

CHƯƠNG TRÌNH THỜ PHƯỢNG BAN THANH NIÊN 22.9.2019

in THANH NIÊN on 17 Tháng Chín, 2019

Chúa nhật 22.9.2019.
1. Đề tài: BÀY TỎ ĐỨC TIN.
2. Kinh Thánh: Ga-la-ti 5:5-6; Gia-cơ 2:14-17.  
3. Câu gốc: “Anh em đã sống trên thế gian ăn uống vui sướng và xa xỉ, anh em đã làm cho lòng mình no nê trong ngày chém giết” (Gia-cơ 5:5).
4. Đố Kinh Thánh: Ô-sê 11-14.
5. Thể loại: Thảo luận.
* CHỈ DẪN: Thảo luận.
1. Từ nhiều tuần trước, Ủy viên linh vụ giao hai đề tài cho hai nhóm:
Đề tài 1: Bày Tỏ Đức Tin.
Đề tài 2: Không Bày Tỏ Đức Tin.
2. Mỗi nhóm họp lại đề cử hai người thay mặt nhóm để thảo luận và đưa ra những ý kiến để giúp cho việc thảo luận của nhóm có sức thuyết phục cao.
3. Ban hướng dẫn nhờ một người có ân tứ và hiểu biết Lời Chúa để đúc kết giờ thảo luận, vì đúc kết sai sẽ làm rối trí các ban viên và nguy hại cho Hội Thánh.
4. Giờ thảo luận.
a. Người hướng dẫn tuyên bố đề tài thảo luận và mời đại diện của hai nhóm lên ngồi đối diện nhau trước các ban viên.
b. Người hướng dẫn tuyên bố qui luật của buổi thảo luận: Mỗi nhóm tự do trình bày, bênh vực ý kiến của nhóm mình, nhưng không tranh cãi (tìm mọi cách để hạ đối phương và chiếm phần thắng cho mình). Thời gian: 20 phút. Sau đó, nhóm viên của hai nhóm có quyền tham gia thảo luận trong 10 phút.
c. Đúc kết (10 phút): Người chịu trách nhiệm đúc kết sẽ dựa trên Lời Chúa (chứ không phải lý luận) để nói lên chân lý.
* TÀI LIỆU THAM KHẢO.
I. DẪN GIẢI.
Con người với lý tánh xác thịt thường sống bởi mắt thấy chớ chẳng phải bởi đức tin. Nhất là trong thời đại văn minh cực thịnh như ngày nay, khi cuộc sống con người dường như nương dựa vào các kỹ thuật khoa học, và niềm tin nơi Chúa Giê-xu bị xem là điều chẳng thực tiễn. Tuy nhiên nguyên tắc bất di bất dịch “người công nghĩa sống bởi đức tin” vẫn là thiết thực và là lẽ sống cho Cơ đốc nhân trải qua các thời đại.
Tại sao đức tin là cần thiết? Thế nào là sống bởi đức tin?
A. Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỨC TIN.
Tiếp theo lời cảnh cáo của mất ân điển trong Ga-la-ti 5:2-4, Phao-lô khuyến khích tín hữu tiến đến đời sống tự do với đời sống đức tin trong Thánh Linh. Theo sự bày tỏ của Kinh Thánh, chữ đức tin được hiểu trong hai khía cạnh:
1. Đức tin của sự cứu rỗi: Là đức tin nương cậy hoàn toàn vào công lao cứu chuộc của Chúa để được cứu, chớ không phải để cậy hay cộng vào công đức riêng tư nào của mình. Vì Đức Chúa Trời chỉ căn cứ trên sự đổ huyết của Chúa Giê-xu mà xưng nghĩa cho tội nhân, nên kẻ tin không phải làm chi cả, chỉ bởi đức tin tiếp nhận sự ban cho của Đức Chúa Trời trong Con Một yêu dấu của Ngài. Đức tin trong khía cạnh nầy, Phao-lô thường gọi là đức tin trong Đức Chúa Giê-xu, đức tin không bởi việc làm mà Phao-lô thường nói đến để nhấn mạnh sự xưng nghĩa ngoài luật pháp (Rô 3:24-28).
2. Đức tin thực nghiệm sự cứu rỗi hay sự xưng nghĩa: Nếu đọc qua Gia-cơ 2:14-17, chúng ta thấy dường như có sự mâu thuẫn giữa Phao-lô và Gia-cơ trong quan điểm đức tin. Một đàng nhấn mạnh đức tin, một đàng nhấn mạnh việc làm. Nhưng thật ra cả hai nói đến hai khía cạnh của đức tin và có sự tương quan với nhau. Chữ “việc làm” trong Gia-cơ 2:14 có nghĩa là hành động, chỉ về sinh lực của đức tin bên trong nảy ra việc làm bên ngoài. Không phải làm để nhờ đó được xưng nghĩa, nhưng vì cớ đã được xưng nghĩa nên bày tỏ ra việc làm, phẩm hạnh xứng đáng với địa vị công nghĩa Chúa gọi. Vì vậy theo ý nghĩa nầy, Gia-cơ cảnh cáo rằng: “Đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết” (c.17). Điều nầy có nghĩa người nhờ đức tin được cứu, và đức tin đó cần phải được lớn lên song song với việc bày tỏ ra việc làm trong đời sống thánh hóa. Đây là bông trái của sự xưng nghĩa do công việc của Thánh Linh trong đời sống kẻ tin. Do đó đức tin trong khía cạnh thực nghiệm sự cứu rỗi cũng gọi là đức tin trong Thánh Linh mà Phao-lô bày tỏ trong câu 5-6.
Qua hai câu Kinh Thánh trên, đức tin thực nghiệm được mô tả trong hai phương diện:
(1) Chờ đợi: Chữ “nhận lãnh” trong câu 5, theo nguyên văn có nghĩa là chờ đợi (Phi-líp 3:20). Sự chờ đợi nầy được bao gồm trong hai khía cạnh:
– Chờ đợi với hy vọng về sự công nghĩa, tức là sự cứu chuộc của thân thể trong tương lai (Rô-ma 8:20-25).
– Chờ đợi với sự đầu phục ý muốn Chúa trong sự hầu việc Ngài.
(2) Việc làm nảy ra bởi tình yêu thương: Chữ “giá trị” trong câu 6 từ nguyên ngữ Hy-lạp là có năng lực. Trong khi người cậy phép cắt bì, nương tựa vào một nghi thức chết của tôn giáo, thì người sống bởi đức tin nhờ Thánh Linh, đức tin trở nên có năng lực bày tỏ ra những việc làm sống động bởi tình yêu thương. Đó mới là giá trị trong nếp sống đạo của Cơ đốc nhân, chớ không phải là phép cắt bì. Vì vậy, với đức tin trong Thánh Linh đã đưa Cơ đốc nhân dấn bước đến đời sống mới mẻ, đầy hứng thú trong sự khám phá quyền năng kỳ diệu của Chúa Giê-xu để làm những công việc lớn lao, làm vinh danh Đức Chúa Trời.
Tóm lại đức tin theo sự diễn giải trên là lẽ cần cho đời sống tự do của Cơ đốc nhân vì những lý do:
– Để cứ tiến bước trong đời sống nên thánh mà không bị rơi vào ách nô lệ của tội lỗi.
– Để công việc làm có giá trị thật trong Chúa Giê-xu (Hêb 11:6).
B. THỰC NGHIỆM ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN.
Từ câu 4-6, chúng ta tìm hiểu những mối liên quan giữa ân điển với đức tin và đức tin với Thánh Linh. Nhờ sự nâng đỡ của ân điển, tội nhân mới có thể đưa bàn tay yếu đuối của mình nhận lấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Vì vậy, ngoài ân điển của Chúa, không ai hưởng được sự cứu rỗi của Ngài (Êph 2:8). Và khi đức tin được bắt đầu trong kẻ tin, thì cũng bởi ân điển, Thánh Linh được ban cho.
Trong Thánh Linh, đời sống Cơ đốc nhân cũng sẽ được những kết quả như đức tin, trông cậy và yêu thương; là ba điều mà Phao-lô nói đến trong câu 5-6, và cả ba đều có mối liên quan cần thiết với nhau. Vì đức tin giúp hy vọng càng thêm vững chắc trong sự trông cậy về ngày cứu chuộc vinh hiển. Với hy vọng tràn đầy nầy, khiến đức tin nảy ra việc làm phục vụ Chúa mà tình yêu thương là động lực thúc đẩy. Qua mối tương quan nầy cho chúng ta thấy vai trò của Thánh Linh trong đời sống đức tin của con cái Chúa. Thiếu Ngài, Cơ đốc nhân cũng không thể nào đạt đến đời sống kết quả của sự xưng nghĩa bởi đức tin. Cho nên vâng theo sự dẫn dắt của Thánh Linh là bí quyết cho đời sống bởi đức tin của người sống vì vinh hiển danh Đức Chúa Trời.
Kinh Thánh ghi chép nhiều gương sáng của đời sống bởi đức tin. Như Áp-ra-ham đã khám phá đất hứa và quê hương vĩnh viễn trên trời. Môi-se bởi đức tin từ bỏ danh vọng xứ Ai-cập để phục vụ dân sự Chúa trong tình thương (Hê-bơ-rơ 11). Bởi đức tin David Livingston vâng theo sự dẫn dắt của Thánh Linh, nên thay vì muốn đi Ấn Độ, lại đi Phi châu để phục vụ Chúa, và đã chinh phục lục địa nầy cho Đức Chúa Trời. Kỳ diệu thay là đời sống bởi đức tin trong Chúa Thánh Linh.
Nhưng đồng thời Kinh Thánh cũng cảnh cáo kẻ cậy mình và lòng cứng cỏi. Như dân Y-sơ-ra-ên, thay vì bởi đức tin bước vào đất hứa, nhưng lại cứng lòng nên cứ đi quanh quẩn và bị ngã chết trong đồng vắng mà chẳng bao giờ nếm trải được phước hạnh của đất hứa tự do (Dân số ký 13:30; 14:4; Hê-bơ-rơ 3:12-19).
Vì vậy người được cứu, cũng được thách thức trước sự lựa chọn quan trọng nầy: Cậy mình để bị lùi vào ách nô lệ hay nhờ đức tin để tiến đến đời sống sung mãn trong sự tự do Chúa gọi? Sự lựa chọn của người leo núi là nương mình vào sợi dây thừng được neo vững chắc từ phía trên để leo đến đích hay buông dây để bị rơi xuống hố sâu? Chiếc dây leo đó chính là đức tin của chúng ta. Chúng ta có sự lựa chọn nào? Hằng ngày chúng ta có nhờ Thánh Linh sử dụng chiếc dây leo đức tin ấy không hay sống với sự cậy sức riêng mình và bỏ mất đức tin trong Thánh Linh?
Tóm lại:
1. Thiếu Thánh Linh, đức tin cũng thiếu năng lực.
2. Người có đức tin thì cũng có hy vọng về sự vinh hiển. Người có hy vọng về sự vinh hiển không thể không nảy ra các việc làm bởi tình yêu thương.
3. Đức tin trong nếp sống đạo của Cơ đốc nhân là đức tin phải đi đôi với việc làm (hành động).
II. CÂU HỎI SUY GẪM VÀ ỨNG DỤNG.
1. a. Xem Ga-la-ti 5:5-6 và tìm hiểu mối tương quan giữa đức tin, sự trông cậy và tình yêu thương.
b. Qua mối tương quan nầy, chữ đức tin Phao-lô nói đến câu 5 và câu 6 có ý nghĩa gì?
c. Tại sao đức tin quan trọng hơn phép cắt bì? (c.6).
d. Tại sao cần phải có đức tin trong đời sống Cơ Đốc nhân? (Hêb 3:12-19).
2. a. Xem Ga-la-ti 3:2-5; 5:4-6, nói lên mối tương quan giữa:
(1) Ân điển và đức tin.
(2) Đức tin, hy vọng, yêu thương và việc làm.
b. Qua mối tương quan trên.
(1) Vai trò của Đức Thánh Linh trong đời sống đức tin của Cơ đốc nhân là gì?
(2) Cơ đốc nhân có trách nhiệm gì trong sự thể hiện đức tin của mình?
c. Bí quyết nào trong việc thực hành đời sống đức tin?
3. a. Trong Rô-ma 3:28, Phao-lô quả quyết rằng sự cứu rỗi hoàn toàn bởi đức tin chớ chẳng phải bởi việc làm. Trong Gia-cơ 2:17 nói rằng đức tin phải có việc làm. Điều nầy có mâu thuẫn nhau không? Xin giải thích.
b. Thế nào là người thực sự sống bởi đức tin?
4. a. Bạn đang sống trong sự cậy mình hay sống bởi đức tin? Trong đời sống bạn có bông trái nào của đức tin không?
b. Trong việc thể hiện đức tin trong đời sống, bạn thường gặp trở ngại nào? Làm thế nào để vượt qua và đắc thắng?
c. Đức tin của Môi-se đã nảy sinh ra các việc làm nào? Điều đó khuyến khích chúng ta dấn thân trong những công việc gì? (Hêb 11:23-28).